![]() |
|
|
|
|||||||||||
![]() |
|
|
LinkBack | Công Cụ | Dạng sắp xếp bài |
|
|||
|
Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.2
MỌI NGƯỜI PHẢI BIẾT TÍNH TOÁN Hầu hết mọi người đều hiểu tiền mặt ở mức độ nhỏ, trong cuộc sống riêng mỗi ngày. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu các phiếu thu tiền đến trước kỳ lương? Tuy nhiên trong một công ty lớn, có một số người không quan tâm đến tiền mặt. Nhiều người nghĩ rằng trách nhiệm ấy thuộc về phòng tài chính. Nhưng tất cả mọi người trong công ty phải ý thức được công việc của anh ta đang xài tiền hay tạo ra tiền mặt. Một đại diện bán hàng có khả năng thuyết phục được khách hàng chi trả trong vòng 30 ngày thay vì 45 ngày là người có hành động sáng suốt về tiền mặt. Công ty sẽ có số lượng tiền mặt sớm hơn và thế là tiền mặt luôn dư dả _ điều này có nghĩa là tiền mặt luôn có sẵn để dùng vào những hoạt động khác. Một người quản lý nhà máy kém nghiệp vụ khi để tiền mặt tích tụ trong số hàng tồn kho. Quyết định xây dựng một nhà máy mới rõ ràng ảnh hưởng đến chu kỳ tiền mặt. Lấy trường hợp của Nhà máy Bia Miller Brewing làm thí dụ. Philip Morris mua Miller vào thập kỷ 80 và đặt nhà máy bia địa phương vào trong quỹ đạo phát triển lớn. Thị phần nhanh chóng tăng lên từ 8% đến gần 20%. Nhằm khuyến khích động thái này, công ty chủ quản đã đầu tư thêm cho nhà máy bia 460 triệu đô để Miller có thể tăng thêm sản lượng khi thị phần tiếp tục mở rộng ra. Thế nhưng trước khi nhà máy mới hoàn thành và có thể hoạt động, Anheuserbusch, một đối thủ đáng gờm, đã tiến hành những bước tiếp thị táo bạo và đánh bại Miller trên đường đua. Thị phần của Miller không tăng trưởng như mong muốn làm nhà máy bia chẳng bao giờ khai trương và chu kỳ tiền mặt rơi xuống con số âm. Tiền mặt chảy khỏi công ty để xây dựng nhà máy nhưng không có số tiền mặt dự trữ để bù đắp bởi vì doanh số bán ra không thể phát triển như dự định. Thậm chí những nhân viên phòng văn thư cũng đóng một vai trò quan trọng trong chu kỳ tiền mặt. Họ phân loại và gởi thư từ bao gồm thư, hóa đơn và ngân phiếu. Vâng, nhất là ngân phiếu. Thử hình dung xem nếu thư đến vào sáng thứ sáu. Phòng văn thư không chịu phân loại và gởi chúng đi mãi cho đến chiều hôm ấy. Có thể những ngân phiếu không đến được những phòng ban cần thiết trước 4 giờ 30 chiều. Vào lúc này, những nhân viên có nhiệm vụ thu hồi những khoản nợ đã chuẩn bị về nhà. Thế là sáng hôm thứ hai tuần sau, họ mới mở các bức thư. Khi nào những ngân phiếu này biến thành tiền mặt? Ba ngày sau đó, nó mới đến được ngân hàng. Ngoài ra, hãy lưu ý về khoảng thời gian thư từ được gởi đi. Ở nhiều công ty, hóa đơn đã được chuẩn bị sau 2 giờ chiều ngày thứ sáu đã không được gởi đi mãi cho đến sáng thứ hai tuần sau. Khi nhận được hóa đơn qua đường bưu điện vào trước buổi chiều hôm thứ sáu, công ty đã nhận khoản chi trả hai ngày sớm hơn và có thể cải thiện được tình trạng tiền mặt. Vì thế nhiều người đã góp phần vào chu trình quay vòng của tiền mặt bao gồm cả những nhân viên ở phòng văn thư. **** Trong những năm gần đây, một số doanh nhân sáng suốt đã nghĩ ra được những phương pháp hiệu quả để tạo ra lượng tiền mặt. Họ cố gắng tập trung vào số hàng tồn kho đang trói buộc tiền mặt. Hãy nhìn vào công ty Amazone, một trong những công ty đi tiên phong trong bán lẻ qua mạng. Đó là một nhà sách trực tuyến mở cửa 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần. Khi bắt đầu hoạt động, Amazone không có hàng tồn kho. Đây chính là lợi thế tiền mặt khổng lồ so với các công ty kinh doanh sách truyền thống trữ quá nhiều trong nhà sách và kho. Amazone nhận đơn đặt hàng trên mạng rồi giao sách từ nhà xuất bản đến khách hàng. Amazone nhận khoản chi trả theo thẻ tín dụng khi món hàng bắt đầu được gởi đi và không phải trả tiền sách mãi cho tới vài tuần sau đó. Nó đã tạo ra nguồn tiền mặt và dùng số tiền này vào việc tiếp thị có lợi cho doanh số bán ra. (Thế nhưng giờ đây Amazone đã thay đổi phương thức kinh doanh. Nó xây dựng nhà kho và trữ hàng.) Tương tự như thế, công ty máy tính Dell chuyên bán trực tiếp máy vi tính cá nhân đến khách hàng, nhận tiền bằng thẻ tín dụng khi máy vi tính được đặt và trước khi khách hàng nhận chúng. Tuy nhiên, Dell phải trả tiền cho người cung cấp (nguồn cung cấp linh kiện điện tử) trong khoảng thời gian trung bình là 30 ngày sau khi nhận nguyên liệu. Vậy là nó chỉ có 6 ngày tồn kho. Trong khoảng thời gian ấy, Dell có nguồn tiền chảy vào nhiều hơn thoát ra. Công ty càng phát triển, số lượng tiền mặt càng tăng lên. Một số người ví Dell như chiếc máy làm ra tiền. Không chỉ có những công ty kinh doanh những mặt hàng hiện đại giống như Dell mới là những chiếc máy làm ra tiền. Nhiều công ty kinh doanh hàng truyền thống như GE, McDonald, United Technologies và Ford cũng có khả năng này. Thí dụ như GE liên tục làm ra nguồn tiền mặt trong vòng 10 năm. Với việc sản xuất ra những mặt hàng phục vụ cho tiện nghi và sản lượng hiệu quả hơn, GE đã làm giảm đi số hàng tồn kho và phát triển sản lượng mà không cần xây dựng thêm nhà máy mới. Những doanh nghiệp khôn ngoan đều nhận thức được việc tạo ra tiền mặt có thể phát triển công ty. Nếu đầu tư sáng suốt, tiền mặt sẽ cải thiện khả năng là ra tiền của công ty. Nguyên tắc thích hợp để sáng tạo ra tiền mặt là: khi một công ty có nhiều tiền mặt hơn là số mượn nợ, các nhà quản lý cao cấp có khuynh hướng quyết định đầu tư táo bạo hơn có thể đem lại nhiều lợi nhuận. LỢI NHUẬN TRÊN TÀI SẢN Bạn có thể nghĩ làm ra tiền mặt đơn giản, đơn thuần là tạo ra lợi nhuận _ mua thấp, bán cao. Thế nhưng còn có nhiều thứ bạn cần phải quan tâm. Cho dù ở bất cứ tầm cỡ kinh doanh nào, bạn có thể đang dùng tiền của mình (tiền tiết kiệm) hay phải vay mượn người khác (từ ngân hàng) để phát triển. Số tiền này biểu hiện cho công việc đầu tư của chính bạn, được gọi là vốn đầu tư. Nếu được thừa kế doanh nghiệp, bạn có quyền sử dụng khoản đầu tư đó. Khoản đầu tư ấy có thể tồn tại dưới hình thức này hay hình thức khác, số hàng hóa (hàng tồn kho), một cửa tiệm nho nhỏ, nhà máy và trang thiết bị hay số tiền khách hàng mua chịu còn nợ (số tiền có thể thu hồi). Những thứ có trong khoản đầu tư của bạn chính là tài sản. Tài sản của một công ty sản xuất xe bao gồm các phân xưởng và nhà máy lắp ráp, văn phòng làm việc, hệ thống máy vi tính, hàng tồn kho với sắt thép và các phụ kiện. Đấy là những tài sản hữu hình bạn có thể thấy và chạm vào chúng. Những thứ to lớn như nhà xưởng, văn phòng, máy móc được gọi là tài sản cố định. Thậm chí công ty bạn không phải là một doanh nghiệp sản xuất, bạn vẫn có những khoản đầu tư. Trong ngành dịch vụ, chẳng hạn như bảo hiểm, không hề có hàng tồn kho hay máy móc. Nhưng tiền mặt của bạn bị trói buộc theo những cách khác. Thí dụ như quy định của nhà nước yêu cầu các công ty bảo hiểm phải dự trữ một số lượng tiền mặt nhất định để có thể trả cho khách hàng khi cần thiết. Số tiền dự trữ ấy chính là tài sản. Hãy cố nhận dạng ra tài sản cố định trong công ty bạn. Một người với khả năng nhạy bén linh hoạt trong kinh doanh sẽ luôn đắn đo liệu với số tài sản này họ sẽ làm ra được bao nhiêu tiền của. Khi sử dụng chúng, lợi nhuận sẽ là bao nhiêu? Tóm lại, lợi nhuận trên tài sản Roa là gì? Liệu bạn có thể làm số tài sản sinh ra lợi nhuận hay không? Một số người thích nói về lợi nhuận trên khoản đầu tư hay lợi nhuận trên cổ phiếu hơn. Giữa những thuật ngữ này là sự khác biệt mang tính kỹ thuật. Có một khái niệm chung cho những thuật ngữ ấy: Từ khoản đầu tư của mình hay số tiền các cổ đông đầu tư vào công ty, bạn làm ra được bao nhiêu tiền của? Không cần phải có trình độ thạc sĩ quản trị kinh doanh, bạn vẫn có thể hiểu được ý nghĩa của lợi nhuận trên tài sản. Tôi có một thí dụ để chứng minh điều này. Nhiều năm trước đây, tôi đã dẫn một nhóm sinh viên đang học chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh đến một chợ trời cách Thành phố Nanagua cách Nicaragua 8 dặm. Ở đấy những người buôn bán lẻ và nông dân (phần lớn là phụ nữ) bán nhiều loại hàng, từ trái thơm, quần áo cho đến vòng đeo cổ. Chúng tôi tiếp cận một phụ nữ đang bán quần áo trong chiếc xe đẩy rồi tôi hỏi bà ta dùng bao nhiêu tiền để mua số hàng hóa ấy. Bà ta trả lời đấy là số tiền vay với lãi suất 2,5% mỗi tháng. Một sinh viên liền tính nhẩm: 2,5% x 12 tháng và cho biết là lãi suất vào khoảng 30% một năm. Nghe thế bà ta đáp lại tính khoản tích lũy từ tháng này sang tháng kia, lãi suất phải là 34%. **** Thế nhưng bà ta lời được bao nhiêu? Chỉ có 5%. Làm sao bà ta có thể tồn tại được nhỉ? Cảm thấy phiền nhiễu trước câu hỏi ngu ngốc ấy, bà ta đưa cùi chỏ bên phải chống lên bàn tay trái rồi quay thành nhiều vòng tròn trong không khí. Cử chỉ ấy ngụ ý việc quay vòng _ quay vòng hàng tồn, quay vòng vốn liên tục. Bà ta hiểu hoàn toàn bản năng là để kiếm được lợi nhuận cao cần phải có hai yếu tố: lãi ròng và tốc độ quay vòng. Nếu bán một chiếc áo với giá 10 đô, bà ta chỉ kiếm được 50 xu tiền lời. Để trả cho khoản vay và luôn có hàng để bán, bà ta phải bán hàng liên tục 7 ngày một tuần. Bà ta bán hàng càng nhanh, khoản 5% lợi nhuận càng nhanh kiếm được. Thuật ngữ tốc độ quay vòng mô tả khái niệm này về vận tốc, doanh thu và chuyển động. Thử tưởng tượng cảnh nguyên liệu thô di chuyển vào trong một xí nghiệp rồi trở thành thành phẩm và số thành phẩm này rời khỏi các quầy hàng tới tay người tiêu dùng. Đó chính là tốc độ quay vòng. Hay cảnh một cửa tiệm tạp hóa mà người chủ chỉ có một ít vốn và không hề bán chịu. Tất cả tài sản đều tồn tại dưới dạng lượng hàng trữ trên kệ. Liệu người chủ có thể bán sạch hết hàng trong một ngày rồi mua hàng khác thế vào? Hay cần phải bán trong một tuần mới hết số hàng ấy? Trong thí dụ thứ nhất, tốc độ quay vòng hàng tồn kho cao hơn thí dụ sau. Đối với nhiều công ty, tốc độ quay vòng hàng tồn kho là một con số có thể biểu hiện rõ ràng. **** Một số người dùng thuật ngữ quay vòng hàng tồn kho để mô tả tốc độ quay vòng hàng tồn kho. Trong một năm, việc quay vòng hàng tồn kho này diễn ra được bao nhiêu lần? Wal-Mart thực hiện được 360 lần quay vòng đối với mặt hàng giấy vệ sinh. Điều này có nghĩa là toàn bộ số hàng giấy vệ sinh được bán hết trong một ngày. Vâng, mỗi ngày, Wal-Mart thu lại toàn bộ số tiền mua mặt hàng giấy vệ sinh cùng với số lợi nhuận. Quả là cách dùng lý tưởng cho khoảng không gian trên kê. Cho dù tài sản là gì đi nữa, việc hình dung tốc độ quay vòng tài sản của chúng ta yêu cầu vài phép tính đơn giản: doanh số bán ra của bạn trong một năm chia cho tổng giá trị tài sản. Nếu bạn muốn nhìn vào tốc độ quay vòng hàng tồn kho, hãy chia doanh số cho tổng số hàng tồn. Nhưng hãy tạm quên những con số ấy đi. Hãy nhận thức ý nghĩa của tốc độ quay vòng. Những thứ di chuyển từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng _ càng nhanh, càng tốt. Phải mất bao lâu từ khi người tiêu thụ đặt hàng cho tới khi họ nhận được chúng? Phải mất bao lâu từ khi một công ty nhận nguyên liệu thô và phụ tùng để biến chúng thành thành phẩm rồi giao đến người bán lẻ, nhà kho hay các đại lý? Ở Hoa Kỳ, thời gian trung bình cho một chiếc xe sẵn sàng xuất xưởng để đến tay người tiêu thụ là 72 ngày. Trong khoảng thời gian ấy, số tiền dùng để mua phụ tùng lắp ráp hoàn toàn bị đọng. Nhà sản xuất không thể thu hồi số tiền ấy lại dùng cho mục đích khác cho tới khi người tiêu dùng nhận được xe. Nếu chiếc xe được giao sớm hơn, nhà sản xuất ít bị kẹt vốn trong sản phẩm hơn _ có thể nó đang nằm trên tàu hỏa hay trên con tainer chở hàng. Ý tôi muốn nói ở đây là phải giao hàng nhanh hơn. Đó chính là tốc độ quay vòng. Tốc độ quay vòng càng nhanh, lợi nhuận càng cao. Sự thật, lợi nhuận trên tài sản là cái gì nhiều hơn là lãi ròng x tốc độ quay vòng tài sản. Quy luật mang tính toàn cầu trong kinh doanh này có thể viết dưới dạng công thức đơn giản như sau: **** Lợi nhuận trên tài sản = Lãi ròng x Tốc độ quay vòng Hay R = M x V Công thức này không phải là một thuật ngữ tài chánh. R = M x V là dụng cụ thật hữu dụng trong kinh doanh rất đáng được ghi nhớ. Kết quả là, R, được xem như tỉ lệ phần trăm _ 8%, 10%, 15% của lợi nhuận _ một con số đơn giản có thể dùng để so sánh. Khi cần tiêu chuẩn để đánh giá thực lực của doanh nghiệp, một TGĐĐH giỏi không quan tâm đến mức độ chính xác. Ông (bà) ta dùng lợi nhuận trên tài sản (hay một cách gì đó tương tự) để nắm bắt được tình hình của doanh nghiệp. Chỉ số này có tốt hơn năm ngoái và những năm trước đó không? Liệu nó có nhiều hơn các đối thủ cạnh tranh? Lẽ ra nó phải đạt đến con số nào? Những công ty hàng đầu có chỉ số lợi nhuận lớn hơn 10% sau khi chịu thuế. Nguồn :Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.2 |
![]() |
| Công Cụ | |
| Dạng sắp xếp bài | |
|
|
Chủ đề tương tự
|
||||
| Chủ đề | Người mở Chủ đề | Diễn đàn | Trả lời | Bài mới gửi |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.4 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-29-2010 08:15 AM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.5 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-22-2010 07:22 PM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.4 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-21-2010 05:03 AM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.2 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-15-2010 02:13 PM |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|
|